34 Phạm Văn Tráng, P. Hòa Khánh Bắc, Q. Liên Chiểu, TP Đà Nẵng

0913 461 120

 

LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU NGÀNH SINH TRẮC VÂN TAY TRÊN THẾ GIỚI

 

Lịch sử nghiên cứu sinh trắc vân tay Sinh trắc học dấu vân tay là một thuật ngữ khá phổ biến hiện nay được các bậc phụ huynh , các nhà quản lý nhân sự cũng như cá nhân quan tâm.

 

Thuật ngữ sinh trắc học vân tay “Dermatoglyphics”.

 

Thoạt đầu, khi nghe đến cụm từ Sinh trắc vân tay thì chúng ta thường nghĩ nó như là là một hình thức bói toán. Vậy, nó có thật sựmột hình thức của bói toán không ?

 

Mọi người nên phân biết kỹ hai cụm từ khác nhau đây không phải là các đường chỉ tay mà là các dấu vân tay có liên quan đến cấu trúc não bộ và tính cách của con người…

 HÌNH DẠNG VÂN TAY CHO CHÚNG TA BIẾT TÍNH CÁCH CON NGƯỜI

 CHỈ SỐ PI CHO TA BIẾT NĂNG LỰC CỐT LÕI CỦA CON NGƯỜI

 

  • Năm 1986, Giải Nobel khoa học được trao cho 2 nhà khoa học Stanley Cohen và Rita Levi-Montalcini khi chứng minh thành công sự liên quan mật thiết giữa chỉ số NGF ( Chỉ số tăng trưởng tế bào thần kinh) và EGF ( Chỉ số tăng trưởng tế bào biểu bì ) và hơn 7000 báo cáo nghiên cứu khoa học đã chứng minh được sự tương quan mật thiết giữa sơ đồ phân bổ của não bộ và dấu vân tay.

 

Vân tay được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực: Hình sự ( Chứng minh thư…), Y học để chẩn đoán một số bệnh, trong ngành giáo dục để nâng cao chất lượng…

 

Ngành Khoa học Sinh trắc vân tay đã được phân tích và nghiên cứu bởi rất rất nhiều nhà khoa học danh tiếng trên thế giới.

 

Cùng khám phá lịch sử hơn 200 năm của ngành sinh trắc vân tay:

 

  • Thời Trung Quốc cổ đại: Các thương nhân đã biết sử dụng dấu ấn ngón tay trong việc giao dịch

 

  • Đến thế kỉ XVII: Tiến sĩ Gourard Bidloo xuất bản cuốn sách đầu tiên về vân tay học.

 

  • Năm 1686, Marcello Malpighi đưa ra luận thuyết về các loại vân tay.
  • Năm 1788, J.C.MAYER đã phân tích và phát hiện ra dấu vân tay của mỗi người là ĐỘC NHẤT. 
  • Năm 1823: John Evangelish Purkinji, Giảng viên giải phẫu đầu tiên của đại học Brestau, tìm thấy các mô hình và hình dạng các ngón tay bắt đầu HÌNH THÀNH từ tuần thứ 13 của thai nhi trong bụng mẹ. 

            Tiến sĩ Jan Purkinje phân loại những chủng vân tay thành 9 loại. 

  • Năm 1880: Henry Faulds, vị bác sĩ người Anh đưa ra kiến nghị lấy dấu vân tay của tội phạm tại hiện trường vụ án và đang lý luận về gen vân tay. Sử dụng vân tay như phương thức độc đáo XÁC ĐỊNH BẢN CHẤT CỦA CON NGƯỜI. 
  • Năm 1892: FRANCIS GALTON Nhà nhân chủng học người Anh lần đầu tiên chia vân tay thành 3 nhóm : Whorl, Ulnar và Arch .
  • Năm 1897: HARRIS HAWTHOME WILDER Tuyên bố nghiên cứu của ông về các gò trên tay ( 3 điểm bán kính A ,B ,C ) và chỉ dẫn các loại vân tay chính.
  • Năm 1926: HAROLD CUMMINS Nhà giải phẫu học người Mỹ, Cùng Char les Midlo khai sinh ngành vân tay học với thuật ngữ Dermatoglyphics ( Dermg = Dg , glyph = Đường vân ) đề xuất như là một thuật ngữ cho ngành nghiên cứu dấu vân tay tại hiệp hội Hình thái Mỹ, từ đó Sinh trắc vân tay trở thành ngành nghiên cứu riêng biệt. 
  • Năm 1950: GIÁO SƯ WILDER PENFIELD Nhà giải phẩu thần kinh người Canada đã xuất bản tài liệu khoa học “ Cross – secti nal diagram of brain in relation with Various parts of body ” mô tả mối liên hệ chặt chẽ giữa vân tay và bộ não.
  • Năm 1957: Tiến sĩ Walker sử dụng các cấu hình da trong chẩn đoán hội chứng Down.
  • Năm 1958: NOEL JACQUIN Phát hiện ra mối liên hệ giữa tính cách con người và các loại dấu vân tay . 
  • Năm 1967: BERYL BHUTCHINSON Phát hiện vân tay học có thể chứng minh , đặc trưng tính cách của mỗi người .
  • Năm 1968: Sarah Holt nghiên cứu mô hình các vân tay của cả hai bàn tay và lòng bàn tay ở các dân tộc khác nhau cả về đặc tính bẩm sinh và sự tác động của môi trường. 
  • Năm 1970: Liên Xô sử dụng Sinh trắc vân tay trong việc LỰA CHỌN thí sinh cho Thế Vận Hội Olympic.
  • Năm 1976: SCHAUMANN VÀ ALTER Xuất bản kết quả nghiên cứu mối quan hệ rõ ràng giữa dấu vân tay và các bệnh về tim mạch, ung thư, rubella…
  • Năm 1980: Trung Quốc nghiên cứu tiềm năng con người, trí thông minh và tài năng.
  • Năm 1981: ROGER W . SPERRY Đã đạt giải thưởng Nobel y học cho Công trình nghiên cứu về chức năng bán cầu não trái , bán câu não phải và học thuyết toàn não để đưa ra trí thông minh bẩm sinh của mỗi cá nhân .
  • Năm 1985: CHEN Y MOU Nghiên cứu Sinh trắc vân tay dựa trên thuyết đa thông minh của Tiến Sĩ Howard Gardner thuộc trường đại học Havard . Đây là LẦN ĐẦU TIÊN ÁP DỤNG SINH TRẮC VÂN TAY TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC VÀ CHỨC NĂNG CỦA NÃO LIÊN QUAN ĐẾN DẤU VÂN TAY. 
  • Năm 2004: IBMBS Hiệp hội nghiên cứu y học và hành vi Quốc tế được thành lập. Ngày nay , các nước như Mỹ , Nhật , Trung Quốc và Đài Loan đã ứng dụng vân tay học vào lĩnh vực giáo dục để nâng cao chất lượng dạy và học.
    Năm 2010: ADRC Asiaa Dematoglyphics . Research Center – Trung tâm nghiên cứu Vân tay học Châu Á được thành lập Với mục đích dùng hệ thống máy vi tính hiện đại hỗ trợ cho các công tác thống kê nghiên cứu sâu về vân tay học.
  • Năm 2012: GIÁO SƯ LIN đưa Sinh trắc học Dấu vân tay vào Việt Nam – Giáo sư Lin & đội ngũ Cùng Chuyên gia Peter Teoh đã nghiên cứu phần mềm đa ngôn ngữ cho ngành Sinh trắc vân tay.

 

Từ đó trở đi, Sinh trắc dấu vân tay đã bắt đầu có mặt tại Việt Nam.

 

Như vậy, thông qua những công trình nghiên cứu chúng ta có thể thấy rằng sinh trắc học dấu vân tay là một thành tựu của khoa học hiện đại chứ không phải là hình thức bói toán. những thành quả do công nghệ này đưa ra về tính cách bẩm sinh và năng lực cốt lõi của một người là hoàn toàn chính xác.

 

Chính vì vậy, Sinh trắc vân tay Bảo Phúc muốn đem lại nhiều giá trị dịch vụ, tư vấn đến cho cộng đồng Việt Nam nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, …